Dự án Cảng và Kho chứa LNG Trần Đề, TP. Cần Thơ

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng góp phần lớn sản lượng nông - thủy sản xuất khẩu của Việt Nam nhưng đang phải gánh chịu chi phí logistics quá cao do thiếu cảng nước sâu trực tiếp. Hiện tại, hơn 70% hàng hóa của vùng phải trung chuyển bằng đường bộ hoặc sà lan ngược lên cụm cảng Thành phố Hồ Chí Minh và Cái Mép - Thị Vải, làm tăng thời gian vận tải và đội chi phí lên từ 10 - 40%. Việc quy hoạch và xây dựng Siêu cảng nước sâu Trần Đề là bước đi chiến lược mang tầm vóc quốc gia nhằm hình thành một cửa ngõ hàng hải quốc tế loại Đặc biệt trực tiếp cho toàn vùng, tạo điều kiện cho các siêu tàu container đi thẳng sang Mỹ, Âu mà không cần trung chuyển qua nước thứ ba.

Để khắc phục triệt để đặc thù dải ven biển nông và sa bồi của cửa sông Hậu, đồ án áp dụng mô hình liên kết Đất liền - Biển khổng lồ với tổng quy mô 5.400 ha, hướng tới công suất 10 - 15 triệu TEU/năm. Tâm điểm là Bến cảng ngoài khơi rộng 1.400 ha xây dưới dạng đảo nhân tạo cách bờ 15 - 18 km để đạt độ sâu tự nhiên lý tưởng (-16m đến -18m), sở hữu 5,3 km cầu bến container hướng biển đón tàu mẹ 200.000 DWT và hệ thống bến mặt sau đón sà lan nội địa trong vùng nước lặng được bảo vệ bởi siêu đê chắn sóng dài 8,8 km. Hệ thống này kết nối vào bờ thông qua một cây cầu dẫn vượt biển dài 17,8 km, rộng 28m (6 làn xe), dẫn thẳng vào Khu dịch vụ hậu cần cảng, logistics và cảng trung chuyển phía bờ rộng 4.000 ha – nơi tích hợp tổng kho CFS/Ngoại quan cao tầng, Khu phi thuế quan (FTZ) và các khu công nghiệp chế biến sâu.

cảng

 

 Lộ trình phân kỳ đạt công suất mục tiêu (Phù hợp với tiến độ đầu tư)

Công suất mục tiêu 15 triệu TEU/năm không bùng nổ ngay lập tức mà được phân kỳ cơ cấu theo tiến độ tăng trưởng kinh tế vùng:

[Năm 2035: Giai đoạn 1] ---> Vận hành 4 bến nước sâu ----> Công suất đạt: 3,2 triệu TEU/năm

[Năm 2040: Giai đoạn 2] ---> Vận hành 9 bến nước sâu ----> Công suất đạt: 7,5 triệu TEU/năm

[Năm 2050: Hoàn thiện]  ---> Vận hành toàn bộ 18 bến ----> Công suất đạt: 15,0 triệu TEU/năm

3.5.4. Ma trận chỉ tiêu công suất tổng hợp của Siêu cảng khi hoàn thiện

Phân khu chức năng

Hạng mục kỹ thuật chính

Chỉ tiêu công suất khi hoàn thiện

Vai trò trong chuỗi logistics

Tiền phương ngoài khơi (1.400 ha)

18 Cầu bến Container Megamax

15.000.000 TEU/năm

Tiếp nhận siêu tàu viễn dương, bốc dỡ hàng tốc độ cao thông qua 72 cẩu bờ STS.

Tiền phương ngoài khơi (1.400 ha)

Bến hàng rời và hàng lỏng

45.000.000 tấn/năm

Tiếp nhận tàu Capesize, trung chuyển than, khoáng sản và năng lượng LNG sạch.

Hậu phương ven bờ (4.000 ha)

Bãi CY nén và hệ thống kho CFS

Lưu trữ thường xuyên ~1,2 triệu TEU

Phân loại hàng hóa, đóng gói xuất khẩu, thủ tục hải quan điện tử (Smart Gate).

Kết nối liên vùng (17,8 km)

Siêu cầu dẫn vượt biển 6 làn xe

Vận chuyển 45.000 lượt xe tải/ngày đêm

Mạch máu lưu thông container liên tục, giải phóng hàng từ đảo vào đất liền.

 

Siêu cảng Quốc tế Trần Đề được định hướng phát triển theo mô hình Smart Port – Green Port – Digital Port, ứng dụng đồng bộ các công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và năng lực cạnh tranh. Hệ thống vận hành được tích hợp Terminal Operating System (TOS), Port Community System (PCS) và nền tảng quản trị số để điều phối toàn bộ hoạt động cảng theo thời gian thực.

Cảng dự kiến sử dụng các thiết bị bốc xếp tự động như cẩu STS, RTG/ARMG, xe AGV, kết hợp với AI, IoT và Digital Twin để tối ưu khai thác, dự báo lưu lượng hàng hóa, giám sát thiết bị và hỗ trợ bảo trì dự phòng. Bên cạnh đó, các công nghệ RFID, OCR, VTS, AIS, camera AI và hệ thống điều hành giao thông hàng hải sẽ nâng cao năng lực quản lý, bảo đảm an toàn và giảm thời gian thông quan.

Đồng thời, dự án hướng tới tiêu chuẩn Cảng xanh (Green Port) thông qua việc ứng dụng năng lượng tái tạo, hệ thống cấp điện bờ (Shore Power), quản lý năng lượng thông minh, xử lý nước thải và quan trắc môi trường tự động. Việc tích hợp các công nghệ hiện đại sẽ tạo nền tảng để Siêu cảng Trần Đề trở thành trung tâm logistics và trung chuyển container hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn hàng hải quốc tế và xu hướng chuyển đổi số của ngành cảng biển.